Lây lan:
Người nhận máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi C.
Dùng chung kim tiêm nhiễm siêu vi C..
Nhân viên y tế: do tiếp xúc bệnh phẩm nhiễm siêu vi C trong quá trình làm việc.
Đường tình dục.
Từ mẹ sang con.
Nguyên nhân khác: xăm mình , xỏ lỗ tai
Có trường hợp nhiễm không rõ đường lây
3.Lâm sàng :
Thời gian ủ bệnh từ 2 tuần ---- 6 tháng
a/Cấp:
Phần lớn bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng .Một số khác có biểu hiện mệt mõi , chán ăn , có thể vàng da , nước tiểu đậm màu ……chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm máu.
b/Mãn
Khoảng 85% trường hợp nhiễm siêu vi C chuyển thành mãn tính , nghĩa là không đào thải siêu vi sau 6 tháng . Đặc điểm nổi bật của bệnh viêm gan C mạn tính là sự tiến triển thầm lặng qua nhiều năm , vì thế người bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời . Nhiều trường hợp bệnh chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng nghiêm trọng : xơ gan , báng bụng , dãn mạch máu đường tiêu hóa , có thể vỡ gây chảy máu ồ ạt và tử vong. Có thể có biến chứng ung thư gan. Khi đã xơ gan , khó hồi phục , vì vậy nên điều trị sớm nhằm ngăn ngừa xơ gan , ung thư gan.
4.Chẩn đoán:
Anti HCV: dương tính chứng tỏ có nhiễm siêu vi C , không có ý nghĩa là kháng thể chống lại bệnh.
HCVRNA (đây là xét nghiệm về gen của siêu vi ) xuất hiện rất sớm sau khi nhiễm bệnh , xét nghiệm này dương tính chứng tỏ bệnh đang phát triển , virus đang sinh sôi nảy nở.
Xét nghiệm về gen của siêu vi : xác định được genotype của siêu vi , định lượng được số lượng siêu vi trong máu, nhờ đó gíup định phác đồ điều trị chính xác , tiên lượng được hiệu quả thành công của quá trình điều trị.
.Có nhiều kỹ thuật xác định gen siêu vi C , kỹ thuật LiPA là một trong những kỹ thuật tiến tiến và chính xác.
5.Điều trị:
a/Viêm gan C cấp
Lúc trước các bác sĩ quan niệm chỉ cần cho bệnh nhân nghỉ ngơi , bồi dưỡng , sinh tố, không cần điều trị đặc trị . Tuy nhiên hiện nay nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng , nếu điều trị viêm gan C giai đoạn cấp bằng Interferon đơn độc hay phối hợp Ribavirin trong vòng 6 tháng sẽ loại khỏi virus khỏi cơ thể , đưa gan về bình thường , tỉ lệ thành công 90---95%.
b/Viêm gan C mãn:
Phác đồ điều trị viêm gan C hữu hiệu : Interferon + Ribavirin, hiện nay có loại Interferon thế hệ mới Peg-Interferon hiệu quả hơn Interferon.
Nếu dùng phác đồ điều trị Peg-interferon+ Ribavirin cho type 2, 3 chỉ cần điều trị 24 tuần , trong khi cho type 1 phải 48 tuần. Tỉ lệ thành công cho type 1 là 42% trong khi type 2, 3 là 82%.
6.Phòng ngừa:
Hiện tại chưa có vaccin ngừa viêm gan C , chỉ có thể:
_ Tránh tiếp xúc thân mật với người bệnh hay người mang mầm bệnh.
_ Tránh sử dụng kim tiêm , ống tiêm hay đụng chạm với dụng cụ bén nhọn bị hoại nhiễm.
_ Loại bỏ mẫu máu bị hoại nhiễm.
7.Lời khuyên chế độ ăn và lối sống:
_ Chế độ ăn: Bạn nên hạn chế rượu , bia vì xơ gan dễ xảy ra hơn ở người viêm gan đồng thời nghiện rượu .Bệnh nhân viêm gan C có thể duy trì chế độ ăn lành mạnh bình thường .Khi đã có xơ gan , bác sĩ khuyên nên áp dụng chế độ ăn giảm muối .
_Lối sống: Như đã nêu ở trên , siêu vi viêm gan C lây truyền qua đường máu , nếu bạn bị đứt tay hãy lau sạch bằng dung dịch sát trùng . Mặc dù nguy cơ lây nhiễm thấp , bạn vẫn nên áp dụng phương pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.
D.Sỏi mật
Các sỏi mật được hình thành khi cholesterol và/hoặc các sắc tố trong mật tạo thành tinh thể trong túi mật, tạo nên sỏi có kích thước thay đổi từ cỡ viên đá cuội cho đến quả banh gôn. Đôi khi sỏi gây tắc nghẽn ống mật dẫn mật từ túi mật đến tá tràng (là phần đầu tiên của ruột non). Túi mật và ống mật khi đó sẽ cố gắng tống viên sỏi bằng cách co thắt cơ. Điều này có thể gây nên cơn đau bụng dữ dội. Sự tắc nghẽn ống mật do sỏi ngăn cản mật chảy từ túi mật vào ruột. Mật sau đó trở ngược lại vào máu, gây nên triệu chứng hoàng đản.
Sỏi mật thường thấy ở bệnh nhân trên 40 tuổi, đặc biệt ở phụ nữ và những người béo phì.
Mỗi năm có hơn 500.000 người Mỹ trải qua phẩu thuật cắt bỏ túi mật do sỏi mật. Thuốc dùng qua đường uống, ursodiol , là một thay thế an toàn và hiệu quả cho việc giải phẩu túi mật cho nhiều bệnh nhân.
E.Các rối loạn ở gan có liên quan đến rượu
Có 3 loại rối loạn gan riêng lẻ có liên quan đến rượu: gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu và xơ gan do rượu.
I.Gan nhiễm mỡ :
rối loạn ở gan do rượu thường gặp nhất, gây nên tình trạng gan to và khó chịu vùng thượng vị phải. Gan sưng thường mềm ,hoặc đau. Gan nhiễm mỡ nặng có thể gây ra vàng da và sự bất thường tạm thời chức năng gan. Chế độ kiêng rượu có thể mang lại sự hồi phục hoàn toàn mà không để lại hậu quả xơ gan.
II.Viêm gan do rượu :
là một bệnh lý cấp tính thường có các triệu chứng buồn nôn, nôn ói, đau vùng thượng vị phải và giữa rốn, sốt, vàng mắt vàng da, gan to và mềm, và tăng số lượng bạch cầu máu. Thỉnh thoảng viêm gan do rượu có thể không có triệu chứng. Giống như gan nhiễm mỡ, việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ và phòng ngừa.
Bất kỳ một bệnh nào do nghiện rượu gây ra đều không thể hồi phục nếu không ngừng uống rượu. Một khi bệnh viêm gan do rượu phát triển sẽ dẫn đến xơ gan nếu còn tiếp tục uống rượu.
III.Xơ gan do rượu :
xuất hiện ở 10% đến 15% những người uống nhiều rượu trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, có sự thay đổi đáng kể về độ nhạy cảm của mỗi người đối với lượng rượu đượcï uống, và cần có những nghiên cứu xa hơn để biết tại sao có vài người lại dễ bị tổn thương do rượu hơn là những người khác.
F.Xơ gan
Mỗi năm có trên 25.000 người Mỹ chết do xơ gan, đứng hàng thứ 7 về nguyên nhân gây chết ở Mỹ. Thật ra, với độ tuổi từ 25 đến 44 thì nó là nguyên nhân gây chết đứng hàng thứ 4.
Sự xơ hóa của gan là một bệnh thoái trong đó tế bào gan bị tổn thương và bị thay thế bằng sự hình thành những mô sẹo. Mô sẹo phát triển làm lượng máu chảy qua gan bị giảm đi, do đó càng làm nhiều tế bào gan bị chết đi.Chức năng gan bị suy giảm gây ra những rối loạn ruột non-dạ dày, gầy kém, gan lách to, vàng da, ứ đọng dịch ở ổ bụng và các mô khác của cơ thể. Sự tắc nghẽn tuần hoàn ở các tĩnh mạch thường gây ói ra máu.
Bất kỳ tác nhân nào gây ra tổn thương gan nghiêm trọng đều có thể gây xơ gan. Quá nữa số người chết do xơ gan là do nghiện rượu, viêm gan và do các loại vi-rút khác. Một vài hóa chất, nhiều chất độc, quá nhiều sắt hay đồng, tác dụng phụ nghiêm trọng với thuốc, và tắc nghẽn ống mật chủ cũng có thể gây ra xơ gan.
Một vài loại xơ gan có thể điều trị, nhưng rất hiếm. Tại thời điểm này, việc điều trị chủ yếu là hổ trợ và có thể bao gồm một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, lợi tiểu, các vitamin kiêng rượu. Tuy nhiên, có nhiều tiến triển trong việc kiểm soát các biến chứng chính của xơ gan như dịch lưu lại trong ổ bụng, chảy máu và những thay đổi chức năng tâm thần.
G.Những rối loạn về gan ở trẻ em
Cứ khoảng một ngàn trẻ em Mỹ có mười trẻ-từ lúc sơ sinh đến lúc tuổi thanh niên-bị mắc bệnh gan bẩm sinh hay mắc phải, và tronf số đó có hằng trăm người chết mỗi năm. Tỉ lệ mắc của bệnh gan được ước tính cao tới 1 / 2.500 trẻ sơ sinh còn sống. Có hơn 100 loại khác nhau của bệnh gan ghi nhận được ở trẻ mới sinh và trẻ em. Bệnh phổ biến hơn trong nhóm bệnh về gan nói trên là:
Hẹp đường mật. Sự khiếm khuyết hoặc kích thước không đủ lớn của ống mật chủ từ gan đến ruột. Số trẻ đến ghép gan do hẹp đường mật nhiều hơn do bất kỳ một bệnh gan đơn độc nào khác.
Viêm gan mãn tính thể hoạt động thường tiêu hủy và thay thế tế bào gan bình thường bằng mô sẹo qua một diễn tiến không rõ, diễn tiến này giống như một sự dị ứng của trẻ đối với mô gan của chúng.
Galacto-huyết là một bệnh di truyền trong đó một thiếu hụt một men cần cho sự tiêu hóa sữa, gây nên ứ đọng đường sữa trong gan và các cơ quan khác, dẫn đến xơ gan, đục thuỷ tinh thể và tổn thương não. Trẻ sẽ chết trừ khi cho nuôi trẻ với một khẩu phần nhân tạo đặc biệt không có sữa.
Trong bệnh Wilson, một lượng lớn đồng nằm trong gan do một bất thường về di truyền, là nguyên nhân gây ra xơgan và tổn thương não.
Hội chứng Reye’s là một rối loạn cấp bẩm sinh cấp tính hiếm gặp trong đó mỡ bị ứ đọng trong gan và trẻ sẽ đi đến hôn mê sâu.
Xơ gan có thể do bất kỳ một tổn thương lan rộng trong gan bao gồm phần lớn các rối loạn được mô tả ở trên.
H.Ung thư gan
Dạng ung thư gan thường gặp nhất là do ung thư ở các hệ thống cơ quan khác di căn đến gan.
Những ung thư gan có nguồn gốc từ gan thì không được biết nhiều trừ khi nó được kết hợp với viêm gan siêu vi và các loại ký sinh trùng nhất định, các thuốc và các chất độc trong môi trường sống. Mỗi năm có 1.000 người Mỹ chết vì ung thư gan nguyên phát. Ở những người mang mầm bệnh viêm gan siêu vi B hay C thì nguy cơ phát triển thành ung thu gan tăng cao.
Hi vọng vào những nghiên cứu trong tương lai
Lá gan, nhà máy loại bỏ chất độc của cơ thể, đang càng ngày càng trở thành một cơ quan làm việc quá tải. Những bệnh của gan ngày càng tăng. Một phần của sự gia tăng này là do việc tăng sử dụng hóa chất và do tăng các chất làm ô nhiễm môi trường.
Những đầu tư nhỏ giọt trong nghiên cứu về gan hiện nay có liên qua đến tầm quan trọng, mức độ tàn phá và nghiêm trọng của những bệnh này. Các chuyên gia ước lượng rằng có hơn một nửa của tất cả các bệnh gan có thể ngăn ngừa được nếu con người hành động nhiều hơn để tăng những hiểu biết chúng ta đang có hiện nay.
Mỗi năm có hơn 25 triệu người Mỹ bị hành hạ bởi các bệnh gan và túi mật và có nhiều hơn 51.532 người chết vì bệnh gan. Có ít phưong pháp điều trị có hiệu quả đối với hầu hết các bệnh gan hiểm nghèo, ngoại trừ ghép gan.
7.4.08
Viêm gan siêu vi C
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét