29.5.08

Bài thuốc cây xạ đen và hiệu quả điều trị ung thư

Thời gian gần đây, một phòng khám của Hội Đông y tỉnh Hoà Bình trở nên tấp nập từ sáng đến đêm. Hầu hết người đến đây chờ bắt mạch, kê đơn là bệnh nhân ung thư, với hy vọng khỏi chứng nan y nhờ bài thuốc có đầu vị là cây xạ đen do một cố lương y dân tộc Mường để lại.Sáng 14/3 ở Phòng khám Đông y số 6 (số 35, tổ 7, đường Nguyễn Thái Học, phường Đồng Tiến, thị xã Hoà Bình), nơi bà Đinh Thị Phiển - con gái cố lương y Bùi Thị Bẻn (còn gọi là Mế Hậu) bắt mạch, kê đơn, bà Vũ Việt Anh (Ba Đình, Hà Nội) bị ung thư vòm nói: "’Tôi vừa xạ trị 30 mũi ở Bệnh viện K, nghe tin bài thuốc cây xạ đen, tìm về đây xin bốc uống, mong đỡ bệnh".Cũng như bà Việt Anh, gần 30 bệnh nhân ung thư và người nhà tìm đến phòng khám của lương y Đinh Thị Phiển xin thuốc cây xạ đen sáng hôm ấy đều không hy vọng thoát căn bệnh khoa học còn bó tay này, vì "nếu khỏi, bài thuốc đã giật giải Nobel". Hầu hết đều chỉ mong muốn nhờ bài thuốc có xạ đen mà giảm triệu chứng mệt mỏi, đau đớn của căn bệnh hiểm và kéo dài tuổi thọ. Phóng viên VietNamNet đã tìm gặp một số người bệnh ung thư may mắn đỡ đau, khoẻ lên sau khi uống các thang thuốc với đầu vị là xạ đen bà lương y Phiển bốc cho họ. Ông Phạm Văn Bài - bệnh nhân ung thư phổi 53 tuổi ở thôn Thị Đức, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, Hải Dương, cho biết, sau khi ông được bệnh viện tỉnh cho về nhà điều trị, gia đình đã mang hồ sơ bệnh án đến lương y Phiển và xin bà cho thuốc. Ông không ngờ sau khi uống 3 thang, bệnh chuyển. 20 thang tiếp, ông đã nói ra tiếng, người nhẹ hơn. 30 thang sau nữa, ông bắt đầu ăn ngủ được, thể lực khá hẳn. Một bệnh nhân khác cũng ngạc nhiên trước sự thay đổi chất lượng cuộc sống rõ rệt mà những thang thuốc sắc bình dị này mang lại. Nguyên phi công Nguyễn Văn Tụ (số 2, tổ 97, phường Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội) sau khi được bệnh viện chẩn đoán là ung thư dạ dày và không mổ đã dùng 30 thang thuốc có xạ đen, cảm thấy trạng thái toàn thân dễ chịu từng ngày, các cơn đau ít và đỡ dần; nay đã tự túc trở lại mọi sinh hoạt cá nhân.Ông Bài, ông Tụ và các bệnh nhân ung thư khác đều được lương y Đinh Thị Phiển bắt mạch, xem xét kỹ hồ sơ bệnh án (với các kết quả xét nghiệm và chẩn đoán lâm sàng của y học hiện đại) rồi kê thuốc với lượng nhiều ít xạ đen, đinh râu, xạ bái và các vị khác tuỳ loại và mức độ bệnh.Mỗi người chỉ tốn trên dưới 1 triệu đồng tiền thuốc cho đến lúc chuyển bệnh và khoẻ lại.Khoa học đã công nhận bài thuốc cây xạ đenNhiều chục năm trước, cây xạ đen (hay xạ đen cuống, tiếng Mường gọi là Xạ cái) từng được lương y dân tộc Mường Bùi Thị Bẻn (bệnh nhân thường gọi là mế Hậu, ở huyện Kim Bôi, Hoà Bình) đặt tên là cây ung thư, chuyên dùng để chữa các loại u khối. Bài thuốc cây xạ đen, dù sau đó được mế tặng cho Hội Đông y tỉnh Hoà Bình, vẫn ít người biết đến. Chỉ kể từ năm 1987, khi được đoàn bác sĩ Học viện Quân y (do GS.TSKH Lê Thế Trung - Chủ tịch Hội Ung thư TP.Hà Nội dẫn đầu) phát hiện trong chuyến sưu tầm các bài thuốc quý trong dân gian, cây xạ đen mới bắt đầu thu hút sự chú ý của giới khoa học và được đưa về cơ sở này để nghiên cứu.Qua nghiên cứu về thực vật học, hoá dược, dược lý, nghiên cứu thực nghiệm trên động vật được gây ung thư (theo đề tài cấp Bộ về xạ đen do GS. Lê Thế Trung làm chủ nhiệm), các bác sĩ đã phát hiện ở loài cây này tác dụng hạn chế sự phát triển của khối u ác tính. Hơn nữa, theo GS. Trung, hợp chất lấy từ xạ đen nếu được kết hợp với chất Phylamin (lấy từ một loại thảo dược ở đồng bằng) còn phát huy tác dụng, kéo dài tuổi thọ trung bình của động vật bị ung thư hơn nhiều chất đã qua nghiên cứu thực nghiệm như Trinh nữ hoàng cung hay tỏi Thái Lan.Đến cuối năm 1999, đề tài của các bác sĩ Học viện Quân y được nghiệm thu, cây xạ đen chính thức được công nhận là một trong không nhiều những vị thuốc nam có tác dụng điều trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư. Cuối năm 2002, người bệnh mới biết đến loài cây này qua câu chuyện của GS. Trung trong Chương trình Người đương thời (VTV3) và tìm về phòng khám Đông y nơi con gái mế Hậu - lương y Đinh Thị Phiển làm việc ngày một đông.Cẩn thận với xạ đen rởmTừ khi được nhiều người biết đến, xạ đen trở thành đối tượng chính của dân săn dược liệu. Từ đầu năm Quý Mùi, xạ đen khan hiếm hơn, giá thị trường tăng từ 50.000 đồng lên 150.000-200.000 đồng/kg khô. Phòng khám của lương y Đinh Thị Phiển trở thành nơi tiếp không chỉ bệnh nhân và người nhà; dân buôn dược liệu thi thoảng cũng ghé qua xin bà xem giúp những thứ cây nhét chặt trong các bao của họ có đúng là loài cây quý. Lương y Đinh Thị Phiển cho biết, có đến 3/4 số cây bà được hỏi không phải là xạ đen; phần lớn là cây thuỷ bồ (hoặc thạch xương bồ, nếu mọc trên đá). Những loài cây này cũng có lá xanh và chát gần giống lá chè nhưng không lớn hoặc sẫm bằng xạ đen. Đặc biệt, không chuyển màu đen mực ngay sau khi bị băm nhỏ như loài dược thảo quý này. Bà Phiển dự đoán, những thứ xạ đen giả nói trên sẽ được tải về các kho thuốc đông y và cắt cho bệnh nhân nhiều tỉnh. Còn ở nhà bà lương y nối nghiệp trị bệnh, cứu người của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và người mẹ đã quá cố, cây xạ đen sẽ mãi là thật, dù người ta có nhao nhác đi tìm của giả để thay thế và nguyên liệu thuốc có tăng giá đến đâu. Để người bệnh ung thư còn chí ít là một trong mười phương được sống và sống chất lượng nhất trong khả năng có thể.
1. Lương y Đinh Thị Phiển
Chủ trị: Dùng bài thuốc với vị chính là cây Xạ đen.
Địa chỉ: 35/7 Nguyễn Thái Học - P. Đồng TiếnThị xã Hòa Bình, Tỉnh Hòa Bình
ĐT: (018) 852975Di động: 0913 552 659
Ngoài ra còn có thêm một cơ sở mới nữa ở đường Trần Hưng Đạo, cũng đề tên Lương y Đinh Thị Phiển, nhưng không thấy bà Phiển ngồi đó. Theo tôi, bà chủ yếu ngồi bắt mạch, khám bệnh tại nhà ở Nguyễn Thái Học. Tôi cứ đưa địa chỉ cơ sở II lên đây để các bạn tham khảo:
Trung tâm Y học cổ truyền Hòa BìnhĐịa chỉ: 9 Trần Hưng Đạo, TX Hòa BìnhĐT: (018) 894 952
Địa chỉ của bà Đinh Thị Phiển:
Phòng khám Đông y số 6 Số 35, Tổ 7, Đường Nguyễn Thái HọcPhường Đồng Tiến, Thị xã Hoà Bình

Read More......

Một lương y giỏi

Đó là những gì chúng tôi muốn viết về những đóng góp của một phụ nữ đầy năng động có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở tỉnh Hòa Bình...
Là một phụ nữ dân tộc Mường, lương y Đinh Thị Phiển - Giám đốc Công ty y dược học cổ truyền Hoà Bình được thừa hưởng tinh hoa vốn quý của y học cổ truyền của đồng bào dân tộc Mường, trong đó có bài thuốc gia truyền về chữa vô sinh - muộn con và u bướu do bà cụ thân sinh - được người dân nơi đây gọi bằng tên trìu mến: Mế Hậu (trước từng công tác tại Hội Đông y Hoà Bình) - trực tiếp truyền dạy. Bên cạnh đó, với trên 30 năm trực tiếp khám chữa bệnh và phụ trách phòng khám trước đây thuộc Xí nghiệp thuốc dân tộc Hoà Bình, lương y Đinh Thị Phiển đã duy trì kế thừa phát huy và phát triển những vốn quý đó, không ngừng học hỏi, trau dồi kinh nghiệm để nâng cao chỉnh lý những bài thuốc - vị thuốc quý hiếm mang lại hiệu quả chữa bệnh ngày càng cao.
Nhiều năm nay, được sự giúp đỡ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Sở Y tế Hoà Bình cũng như sự tín nhiệm của bệnh nhân trong cả nước và được Sở Y tế Hoà Bình cho thành lập Trung tâm y học cổ truyền Hoà Bình nay là Công ty cổ phần y học cổ truyền Hoà Bình, Giám đốc Đinh Thị Phiển đã cùng các lương y khác trong công ty khám, chữa bệnh cho hàng ngàn lượt người bằng phương pháp y học cổ truyền dân tộc, trong đó có bài thuốc gia truyền chữa muộn con và đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều cặp vô sinh. Đặc biệt, được sự giúp đỡ của GS.TSKH. Lê Thế Trung - nguyên giám đốc học viện quân y làm chủ nhiệm đề tài cùng các cộng sự nghiên cứu khoa học về cây xạ đen trong bài thuốc gia truyền chữa u bướu của Mế Hậu (mẹ của lương y Phiển) để có những đánh giá khách quan về tác dụng của xạ đen nói riêng và bài thuốc UT1, UT2 nói chung. Kết quả nghiệm thu năm 1999, chất chiết xuất từ cây xạ đen dưới dạng tinh thể được ký hiệu khoa học K10 có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, giảm trọng lượng của u khối, giảm lượng dịch ổ bụng. Hiện nay, kết quả nghiên cứu này đang được Công ty cổ phần y học cổ truyền Hoà Bình đưa vào hỗ trợ điều trị ung thư theo phác đồ của Giáo sư - Tiến sĩ KH Lê Thế Trung với mong muốn kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Bên cạnh đó, các tài liệu y học cũng đã khẳng định chất K10 còn có tác dụng làm tăng cường trí nhớ. Hiện nay, công ty kết hợp với Công ty dược liệu Trung ương I chế thành trà bảo thọ xạ đen Hoà Bình dạng túi lọc và hoà tan để tiện cho người sử dụng, uống được thường xuyên để nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ và khả năng miễn dịch. Đồng thời, bà Đinh Thị Phiển tiếp tục phối hợp với học viện quân y nghiên cứu khoa học về độc tính cấp và bán cấp của bài thuốc UT1, UT2 cùng hai loại trà bảo thọ xạ đen Hoà Bình để đảm bảo an toàn cho người sử dụng và thực tế nhiều người sử dụng không có tác dụng phụ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm trà bảo thọ xạ đen Hoà Bình có tác dụng chống oxy hoá - chống viêm - an thần - tăng cường trí nhớ; người sử dụng đều thấy có tác dụng tốt như ăn ngon miệng, ngủ tốt, sức khoẻ được cải thiện, dễ uống vì có mùi thơm dịu.
Những bài thuốc đông y và trà của Công ty y học cổ truyền Hoà Bình được nhiều người và bệnh nhân trong cả nước tin dùng. Nhờ hiệu quả tích cực của phương pháp trị bệnh gia truyền mà uy tín của lương y Đinh Thị Phiển - Giám đốc công ty ngày một được nâng cao. Ngoài việc khám và điều trị cho các bệnh nhân, bà Phiển còn làm tốt công tác từ thiện như: mỗi thang thuốc đối với bệnh nhân u khối được hỗ trợ từ 5 -10 ngàn đồng, có những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn mang bệnh hiểm nghèo như cháu Nguyễn Thị Diệp - ca ghép gan đầu tiên của Việt Nam - lương y Đinh Thị Phiển đã hỗ trợ cho 100 triệu đồng; cấp thuốc miễn phí cho nhiều cụ già, cháu nhỏ. Đồng thời, Công ty cổ phần y học cổ truyền Hoà Bình cùng với Hội Chữ thập Đỏ, tỉnh hội đông y tổ chức các đợt khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho những gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở vùng sâu, vùng xa; phát động trồng và nhân rộng cây dược liệu tại vùng nông thôn để mang lại nguồn thu đáng kể cho đồng bào.Những ứng dụng thành công về y học cổ truyền của lương y Đinh Thị Phiển đã mang nhiều niềm vui cho người bệnh. Trong dịp kỷ niệm Ngày thầy thuốc Việt Nam gần đây, hàng trăm bệnh nhân từng được lương y Phiển chữa trị khỏi bệnh đã tụ hội về Hoà Bình để cảm ơn lương y Phiển. Anh Phạm Bá Hợp (thôn Vân Trung – xã Nam Vân, thành phố Nam Định) kể lại câu chuyện đi tìm bài thuốc nam chữa bệnh vô sinh. Anh Hợp vốn là công nhân xây dựng Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Hai anh chị lấy nhau hơn 10 năm không có con. Theo lời mách bảo của người bản địa nói tại Hoà Bình có bài thuốc nam chữa bệnh vô sinh khá hiệu quả của Mế Hậu, mà người thừa kế hiện nay là lương y Đinh Thị Phiển đã chữa nhiều trường hợp thành công. Cuối tháng 11 năm 1986, anh Hợp được lương y Phiển khám và cho thuốc, chỉ sau chưa đầy 2 tháng vợ anh có bầu và tới năm 1987 đã sinh được cháu trai, tiếp đó đến năm 1990 vợ anh sau khi uống tiếp thang thuốc lương y Phiển bốc đã sinh cháu gái thứ hai. Nhiều cặp vợ chồng cùng thôn với anh Hợp được chữa khỏi bệnh đều cảm kích với lòng biết ơn: “Nếu không có bài thuốc nam chữa vô sinh này, gia đình chúng tôi đã tan vỡ rồi”. Đó là một trong hàng ngàn người bệnh đã được lương y Phiển chữa trị khỏi bệnh. Lương y Đinh Thị Phiển cho biết: không có gì quý hơn đối với người thầy thuốc là sự khỏi bệnh của bệnh nhân. Và chính những thành công đó là phần thưởng lớn nhất đối với người thầy thuốc. Mong muốn của lương y Phiển sẽ ngày càng ứng dụng các bài thuốc nam chữa bệnh cho người dân, nhất là bệnh nhân nghèo. Ghi nhận sự đóng góp của lương y Đinh Thị Phiển, Bộ Y tế, UBND tỉnh Hoà Bình đã tặng bằng khen “đã có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác y học cổ truyền”; Công đoàn Y tế Việt Nam tặng bằng khen “trong phong trào thi đua giỏi việc nước - đảm việc nhà năm 2001-2005. Sản phẩm trà bảo thọ xạ đen của Công ty y học cổ truyền Hoà Bình được tặng 3 Cúp vàng -1 HCV “chất lượng cao và an toàn thực phẩm” của Cục vệ sinh an toàn thực phẩm. Đơn vị còn được tặng Cúp “Vì sự nghiệp xanh Việt Nam” của Bộ Khoa học Công nghệ; Cúp vàng thương hiệu hàng Việt Nam Chất lượng cao của Bộ Công nghiệp.

Read More......

16.5.08

Đầy bụng, khó tiêu

Bài 1- Thành phần: Phật thủ, cam tươi 30 gam.- Cách chế: Rửa sạch, thái lát, đổ nước sắc.- Công hiệu: Chữa khó tiêu hóa.- Cách dùng: Uống ngày 2 lần (sáng, chiều).Bài 2- Thành phần: Vả tươi 1-2 quả hoặc mận tươi 1-2 quả .- Cách chế: Rửa sạch.- Công hiệu: Điều trị chứng khó tiêu.- Cách dùng: Ăn quả tươi, mỗi ngày 2 lần vào hai buổi sáng, chiều.Bài 3- Thành phần: Đu đủ xanh khô (mộc qua) 30 gam, chỉ xác 10 gam, gừng khô 6 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa khó tiêu.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 1-2 lần.Bài 4- Thành phần: Sơn tra tươi 20 gam, nho tươi 30 gam, quất tươi 2-3 quả .- Cách chế: Rửa sạch.- Công hiệu: Chữa khó tiêu.- Cách dùng: Ăn tươi ngày 2-3 lần.Bài 5- Thành phần: Trám muối 30 quả, nước gừng một ít vừa đủ dùng.- Cách chế: Trám đốt thành than, tán bột.- Công hiệu: Chữa đầy chướng bụng.- Cách dùng: Mỗi lần uống 4,5 gam, ngày 3 lần sau bữa ăn, uống bằng nước gừng.Bài 6- Thành phần: Ô mai 3 gam, táo tàu 6 quả .- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa khó tiêu.- Cách dùng: Ngày uống 2 lần.

Read More......

Viêm phế quản

Bài 1- Thành phần: Lê 1 quả, hồ tiêu 10 hạt.- Cách chế: Lê bỏ hạt, đặt hạt tiêu bên trong quả lê, nước lượng vừa phải, nấu kỹ.- Công hiệu: Điều trị viêm phế quản.- Cách dùng: Ăn lê và uống nước, mỗi ngày 2 lần.Bài 2- Thành phần: Dứa gọt sẵn 120 gam, mật ong 30 gam.- Cách chế: Đem nấu kỹ với nước.- Công hiệu: Chữa viêm phế quản. - Cách dùng: Ăn cả dứa và uống nước, mỗi ngày 2 lần.Bài 3- Thành phần: Hạnh nhân 100 gam, vừng rang 50 gam.- Cách chế: Giã nát hạnh nhân và vừng.- Công hiệu: Chữa viêm phế quản, ho.- Cách dùng: Hòa với nước sôi uống, ngày 2 lần.Bài 4- Thành phần: Hạnh nhân 12 hạt, ma hoàng 9 gam, cam thảo 3 gam.- Cách chế: Đổ nước sắc.- Công hiệu: Điều trị viêm phế quản.- Cách dùng: Uống thuốc sắc ngày 2 lần.Bài 5- Thành phần: Dưa hấu 1 quả, gừng tươi 60 gam.- Cách chế: Khoét 1 lỗ trong quả dưa, cho gừng vào, hấp cách thủy 2 giờ.- Công hiệu: Chữa viêm phế quản mạn tính.- Cách dùng: Ăn cả nước lẫn cái vài lần trong một ngày.Bài 6- Thành phần: Phật thủ, gừng, bán hạ mỗi thứ 6 gam, đường phèn vừa đủ dùng.- Cách chế: Đem sắc kỹ, bỏ bã.- Công hiệu: Chữa viêm phế quản mạn tính.- Cách dùng: Hòa đường phèn vào nước thuốc, uống lúc nước còn nóng.Bài 7- Thành phần: Vải tươi 50 gam, chè đen 1-1,5 gam.- Cách chế: Đổ 300 ml nước sôi vào ngâm trong 5 phút.- Công hiệu: Chủ yếu chữa hen phế quản.- Cách dùng: Ngày uống 3 lần thay nước chè.

Read More......

Viêm phổi

Bài 1- Thành phần: Rễ chuối tiêu 120 gam, muối ăn một ít.- Cách chế: Giã nát rễ chuối, vắt lấy nước, đun nhỏ lửa cho nóng.- Công hiệu: Chữa viêm phổi.- Cách dùng: Tra muối, uống lúc nước còn ấm, mỗi ngày 2-3 lần.Bài 2- Thành phần: Hạnh nhân 9 gam, ma hoàng 6 gam, thạch cao 25 gam, cam thảo 6 gam.- Cách chế: Cho cả 4 thứ trên vào ấm, đổ nước sắc.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh viêm phổi.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 1-2 thang.Bài 3- Thành phần: Bạch quả (ngân hạnh) tươi 250 gam, dầu vừng một ít.- Cách chế: Bạch quả bỏ vỏ, cho vào bình, đổ dầu vừng vào trộn, sau đó nút kín, chôn sâu xuống đất.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định bệnh viêm phổi mạn tính.- Cách dùng: Sau một tháng đào lên ăn. Ngày đầu ăn 1 hạt, ngày thứ hai ăn 2 hạt, tăng dần đến 30 hạt. Dùng nước ấm uống cùng.

Read More......

Ho khạc ra máu

Bài 1- Thành phần: Vỏ chuối tiêu 300 gam, hoa cúc dại 30 gam, đường phèn 20 gam.- Cách chế: Đem 3 thứ trên sắc như sắc thuốc.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với chứng khạc ra máu.- Cách dùng: Uống thường xuyên hằng ngày thay nước chè.Bài 2- Thành phần: Vỏ cây cọ 250 gam (đốt tồn tính), dưa chuột 1 quả (đốt tồn tính).- Cách chế: Tán nhỏ hai thứ trên thành bột.- Công hiệu: Có tác dụng nhất định chữa ho khạc ra máu.- Cách dùng: Mỗi lần uống 6 gam với nước cơm, ngày 2 lần.Bài 3- Thành phần: Lá sơn tra 10 gam (bỏ lông), lá tre 10 gam, lá chè 3 gam.- Cách chế: Đem sắc như sắc thuốc.- Công hiệu: Điều trị khạc ra máu.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 1-2 lần.Bài 4- Thành phần: Vỏ mía 30 gam, sa sâm 30 gam, ngũ vị tử 3 gam.- Cách chế: Đem sắc như sắc thuốc.- Công hiệu: Điều trị khạc ra máu.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.Bài 5- Thành phần: Hồng vài quả .- Cách chế: Sấy khô, tán thành bột.- Công hiệu: Dùng cho người khạc ra máu.- Cách dùng: Mỗi lần 2 gam, mỗi ngày 3 lần.

Read More......

Bệnh tim mạch

Bài 1- Thành phần: Cùi vải 50 gam, hạt sen 30 gam.- Cách chế: Đem sắc như sắc thuốc.- Công hiệu: Điều trị hồi hộp, loạn nhịp tim.- Cách dùng: Mỗi ngày uống 2-3 lần.Bài 2- Thành phần: Mận 20 gam, mật ong 20 ml.- Cách chế: Đem nấu kỹ.- Công hiệu: Chữa bệnh mạch vành.- Cách dùng: Ăn cả nước lẫn cái, mỗi ngày 2 lần.Bài 3- Thành phần: Táo tàu 10 quả, lá thông 20 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa chứng hồi hộp, tim đập loạn nhịp.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần.Bài 4- Thành phần: Câu kỷ tử 50 gam, rượu trắng 0,5 lít.- Cách chế: Ngâm câu kỷ tử với rượu trên 10 ngày.- Công hiệu: Chữa chứng hồi hộp, loạn nhịp tim.- Cách dùng: Vừa ăn câu kỷ tử, vừa uống rượu, mỗi lần 10 ml, ngày 3 lần.Bài 5- Thành phần: Táo tàu 10 quả, đảng sâm 15 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chủ trị chứng hồi hộp, tim loạn nhịp.- Cách dùng: Uống thay nước chè hằng ngày, mỗi ngày dùng 1 thang.Bài 6- Thành phần: Sơn tra dại 9-12 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Điều trị tim đập nhanh từng cơn.- Cách dùng: Uống thay nước chè.Bài 7- Thành phần: Quả dâu 30 gam, câu kỷ tử 30 gam, gạo dính 15 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa bệnh mạch vành.- Cách dùng: Uống ngày 2 lần.

Read More......

Sởi

Bài 1- Thành phần: Trám xanh 5 quả, cánh hoa mơ 9 gam.- Cách chế: Giã nát, đem sắc kỹ.- Công hiệu: Phòng bệnh sởi.- Cách dùng: Uống thay nước chè.Bài 2- Thành phần: Quả anh đào, rượu trắng với số lượng thích hợp.- Cách chế: Cho anh đào vào bình rượu, nút thật kín, không để thoát hơi, chôn xuống đất bùn, sau 1 năm đào lên, anh đào đã tan ra thành nước.- Công hiệu: Phòng bệnh sởi- Cách dùng: Khi có dịch sởi, lấy ra một chén cho trẻ con uống.Bài 3- Thành phần: Vừng đen 250 gam.- Cách chế: Luộc vừng trong nước sôi.- Công hiệu: Làm cho sởi chóng mọc.- Cách dùng: Lấy khăn mặt thấm nước vừng đắp lên khắp người.Bài 4- Thành phần: Hồng táo 6 quả, bách hợp dại 9 gam, mật ong vừa đủ dùng.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Có tác dụng chữa sởi kèm theo viêm.- Cách dùng: Cho mật ong vào hòa thuốc uống.Bài 5- Thành phần: Mía đỏ (bỏ đốt, lấy cả vỏ), mã thầy cả cuống.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa chứng ho sau khi bị sởi.- Cách dùng: Uống thay nước chè.

Read More......

Kiết lỵ

Bài 1- Thành phần: Trám 7 quả .- Cách chế: Cho nước vào ninh.- Công hiệu: Có tác dụng nhất định chữa bệnh kiết lỵ.- Cách dùng: Ăn cả nước lẫn cái.Bài 2- Thành phần: Vỏ táo tây 20 gam, trần bì 10 gam, gừng tươi 6 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ.- Cách dùng: Uống ngày 2-3 lần.Bài 3- Thành phần: Cau 10 gam, tiên hạc thảo 25 gam.- Cách chế: Cau đập giập, đem sắc cùng tiên hạc thảo.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ.- Cách dùng: Uống ngày 2-3 lần.Bài 4- Thành phần: Vỏ thạch lựu 12-20 gam, đường đỏ vừa đủ dùng.- Cách chế: Đem vỏ thạch lựu sắc kỹ, sau đó tra đường hòa tan.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ mạn tính.- Cách dùng: Mỗi ngày uống 2 lần.Bài 5- Thành phần: Hạt mít, nước cơm vừa đủ dùng.- Cách chế: Hạt mít rang chín, tán thành bột, hòa đều trong nước cơm.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ.- Cách dùng: Mỗi lần uống 15 gam, ngày 2-3 lần.Bài 6- Thành phần: Hồng táo 4 quả, vải 4 quả, long nha thảo (khô) 15 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ.- Cách dùng: Chia uống vài lần trong ngày.Bài 7- Thành phần: Quả dương mai, rượu (để lâu) vừa đủ dùng.- Cách chế: Đem dương mai ngâm rượu từ 7 ngày trở lên.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ.- Cách dùng: Mỗi lần ăn 1-2 quả, ngày 1-2 lần.Bài 8- Thành phần: Sơn tra tươi 60 gam, rượu trắng 30 ml, đường đỏ vừa đủ dùng.- Cách chế: Sơn tra sao vàng, trộn rượu, đem sao tiếp đến khi hết rượu, đổ 200 ml nước, sắc trong 15 phút, bỏ bã, tra đường đỏ, tiếp tục đun sôi.- Công hiệu: Chữa kiết lỵ.- Cách dùng: Uống lúc thuốc đang nóng, mỗi ngày 1 thang, uống hết trong 1 lần.

Read More......

Sốt rét

Bài 1- Thành phần: Cau 15 gam, sài hồ 10 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa sốt rét.- Cách dùng: Chia 2 lần uống trong mỗi ngày.Bài 2- Thành phần: Hạnh nhân 10 gam, thanh hao 20 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa sốt rét.- Cách dùng: Chia 2 lần uống mỗi ngày.Bài 3- Thành phần: Ô mai 12 gam, thảo quả 12 gam, táo tàu 7 quả, cau 25 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa sốt rét.- Cách dùng: Chia 2 lần uống trong mỗi ngày.Bài 4- Thành phần: Sơn tra tươi 25 gam, táo tàu 12 gam, thường sơn 4,5 gam, hương phụ 21 gam.- Cách chế: Nấu kỹ đến khi đặc sánh.- Công hiệu: Có tác dụng tốt khi lên cơn sốt rét.- Cách dùng: Khi lên cơn sốt rét, đun nóng thuốc, uống ngay.Bài 5- Thành phần: Cánh hoa hướng dương.- Cách chế: Đem sắc hoặc pha như pha trà.- Công hiệu: Chữa sốt rét.- Cách dùng: Uống thay nước chè.Bài 6- Thành phần: Trám 1 quả, ếch 1 con.- Cách chế: Trám rửa sạch, ếch làm thịt; moi hết ruột, rửa sạch, nhét trám vào bụng ếch đem hầm.- Công hiệu: Chữa sốt rét.- Cách dùng: Ăn hết trong 1 lần. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Read More......

Nấc

Bài 1- Thành phần: Vải 7 quả.- Cách chế: Đốt tồn tính cả quả, tán thành bột.- Công hiệu: Chữa nấc.- Cách dùng: Uống với nước lã đun sôi.Bài 2- Thành phần: Ngũ vị tử 0,9 gam.- Cách chế: Ngũ vị tử đem rửa sạch.- Công hiệu: Chữa nấc.- Cách dùng: Nhai nuốt dần dần.Bài 3- Thành phần: Chanh 1 quả, rượu vừa đủ dùng.- Cách chế: Chanh rửa sạch, ngâm rượu dùng dần.- Công hiệu: Chữa nấc.- Cách dùng: Ăn chanh (bóc bỏ vỏ) khi bị nấc.Bài 4- Thành phần: Khế tươi 1 quả.- Cách chế: Đem rửa sạch.- Công hiệu: Chữa nấc.- Cách dùng: Nhai nuốt dần, mỗi ngày 2-3 lần.Bài 5- Thành phần: Núm cuống quả hồng, đinh hương mỗi loại 3 gam.- Cách chế: Đem nghiền nhỏ hai thứ trên.- Công hiệu: Chữa nấc.- Cách dùng: Uống 1 lần với nước lã đun sôi.Bài 6- Thành phần: Nhân hồ đào 120 gam, dầu vừng vừa đủ dùng.- Cách chế: Rán nhân hồ đào bằng dầu vừng.- Công hiệu: Chữa nấc.- Cách dùng: Để nguội, ăn hết trong 1 lần, liền trong 3-4 ngày.

Read More......

Nôn mửa

Bài 1- Thành phần: Hồng khô 200 gam, rượu trắng vừa đủ dùng.- Cách chế: Hồng đốt tồn tính, tán thành bột.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định chứng nôn mửa.- Cách dùng: Mỗi lần uống 6 gam với rượu.Bài 2- Thành phần: Hạnh đào 1 quả, hoàng cầm 12 gam.- Cách chế: Đốt đào tồn tính tán bột, đem sắc với hoàng cầm.- Công hiệu: Chữa nôn mửa do vị nhiệt.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần.Bài 3- Thành phần: Trám xanh số lượng vừa phải.- Cách chế: Đem giã nát, đổ nước, sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa chứng buồn nôn ở người có thai.- Cách dùng: Uống thay nước chè hằng ngày.Bài 4- Thành phần: Nước mía 100 gam, nước gừng 9 gam.- Cách chế: Hòa lẫn hai thứ nước trên.- Công hiệu: Chữa nôn mửa do lạnh bụng.- Cách dùng: Uống ít một, mỗi ngày 1 thang, liền trong 2-3 ngày.Bài 5- Thành phần: Táo tây 1 quả, mật ong vừa đủ dùng.- Cách chế: Táo rửa sạch, thái miếng.- Công hiệu: Chữa chứng buồn nôn lúc chưa ăn.- Cách dùng: Chấm miếng táo vào mật ong ăn trước bữa cơm, mỗi ngày 2-3 lần.

Read More......

Tiêu chảy

Bài 1- Thành phần: Sơn tra, vỏ ổi, lá chè vừa đủ dùng.- Cách chế: Đem 3 thứ trên nấu kỹ với nước.- Công hiệu: Chữa tiêu chảy thông thường.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.Bài 2- Thành phần: Táo tây 360 gam, cau 250 gam, phèn chua 130 gam.- Cách chế: Đem nghiền ba thứ trên thành bột để trong lọ.- Công hiệu: Chữa tiêu chảy.- Cách dùng: Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 4,5 - 6 gam, hòa với nước lã đun sôi, cách 6 giờ uống 1 lần.Bài 3- Thành phần: Quả hồng hoa hoặc dương mai, rượu gạo vừa đủ dùng.- Cách chế: Đem quả hồng hoa hoặc dương mai ngâm rượu, đậy nút thật kín, sau 7 ngày có thể dùng được.- Công hiệu: Chữa tiêu chảy thông thường.- Cách dùng: Mỗi ngày ăn 1-2 quả .Bài 4- Thành phần: Vỏ ổi 15-30 gam, đường đỏ vừa đủ dùng.- Cách chế: Sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa tiêu chảy do tỳ hư.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần.

Read More......

Đau bụng

Bài 1- Thành phần: Vỏ quả hồ đào xanh 60 gam, rượu 250 ml.- Cách chế: Ngâm vỏ hồ đào trong rượu, nút kín 7-10 ngày.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh đau dạ dày do vị khí kém.- Cách dùng: Uống mỗi lần 3-5 ml rượu, ngày 2 lần.

Bài 2- Thành phần: Phật thủ 30 gam, rượu 1 lít.- Cách chế: Ngâm phật thủ trong rượu, nút kín, cách 5 ngày lại lắc bình 1 lần, sau 10 ngày có thể bỏ bã, dùng rượu được.- Công hiệu: Chữa đau lạnh bụng.- Cách dùng: Uống rượu mỗi lần 3-5 ml, ngày 2 lần.

Bài 3- Thành phần: Dương mai, rượu vừa đủ dùng.- Cách chế: Cho dương mai vào ngâm rượu.- Công hiệu: Điều trị đau lạnh bụng.- Cách dùng: Mỗi lần ăn 2-3 quả hoặc uống nửa chén rượu. Mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 4- Thành phần: Vải 5 quả, rượu 50ml.- Cách chế: Vải bóc vỏ bỏ hạt, lấy cùi cho vào rượu, đổ 1 bát nước đun sôi trong 10 phút.- Công hiệu: Có tác dụng nhất định trong điều trị đau lạnh bụng.- Cách dùng: Uống nước thuốc và ăn vải mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 5- Thành phần: Bưởi 1 quả, gà con 1 con, rượu, đường đỏ vừa đủ.- Cách chế: Bưởi thái vụn, gà con làm sạch, móc bỏ nội tạng, cho vào nồi, tra rượu, đường đỏ hấp nhừ.- Công hiệu: Chữa đau lạnh bụng.- Cách dùng: Chia 2 lần ăn hết trong ngày.

Read More......

Bệnh viêm gan virus, viêm gan vàng da (hoàng đản), xơ gan

Bài 1- Thành phần: Nước ép dưa hấu 100 ml, mật ong 10 gam.- Cách chế: Đem 2 thứ trên trộn đều.- Công hiệu: Phòng bệnh viêm gan virus.- Cách dùng: Uống hết trong 1 lần.
Bài 2- Thành phần: Vỏ bưởi (bỏ phần cùi trắng), nhân trần lượng thích hợp.- Cách chế: Đem hai thứ trên nghiền nát.- Công hiệu: Chữa viêm gan virus cấp tính.- Cách dùng: Mỗi lần dùng 6 gam uống với nước lã đun sôi, ngày 3 lần.
Bài 3- Thành phần: Mã thầy 5 củ, lá tre non 6 gam, nứa 1 đoạn.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa viêm gan virus cấp tính.- Cách dùng: Chia làm 2 lần uống trong mỗi ngày, mỗi đợt uống liên tục trong 1 tháng.
Bài 4- Thành phần: Phật thủ 9-27 gam, bại tương thảo dùng theo độ tuổi (dưới 10 tuổi 1 gam, sau đó cứ 2 tuổi tăng 1 gam).- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Điều trị viêm gan virus cấp tính.- Cách dùng: Chia uống 3 lần trong mỗi ngày, mỗi đợt liền trong 10 ngày.
Bài 5- Thành phần: Táo tàu 15 gam, nhân trần 30 gam.- Cách chế: Đổ 2 bát nước, sắc đến khi cạn còn 1/3.- Công hiệu: Chữa viêm gan mạn tính (khi uống thuốc kiêng dầu mỡ, thịt).- Cách dùng: Uống khi thuốc còn ấm nóng, liền 10 thang.
Bài 6- Thành phần: Vỏ quả lê, vỏ táo tây mỗi loại 15 gam, ngó sen tươi 100 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Chữa xơ gan mạn tính cổ chướng.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.
Bài 7- Thành phần: Tuyết lê 1 quả, giấm ăn vừa đủ dùng.- Cách chế: Tuyết lê rửa sạch, thái miếng, ngâm trong giấm.- Công hiệu: Chữa viêm gan vàng da (hoàng đản), có hiệu quả khá tốt làm giảm vàng da.- Cách dùng: Mỗi ngày ăn 10 miếng lê, chia làm 3 lần
Bài 8- Thành phần: Phật thủ, thương lục mỗi loại 10 gam, gan lợn 120 gam, dầu sơn trà vừa đủ dùng.- Cách chế: Phật thủ, thương lục đem nghiền nhỏ, gan lợn đem xào dầu.- Công hiệu: Có tác dụng nhất định trong điều trị xơ gan cổ chướng.- Cách dùng: Chấm gan xào với bột phật thủ, thương lục, ăn trước bữa cơm.
Bài 9- Thành phần: Cẩu kỷ tử 50-100 gam, chè đen 0,5-1 gam.- Cách chế: Luộc cẩu kỷ tử sôi sau 5 phút, cho chè đen vào.- Công hiệu: Điều trị bệnh xơ gan.- Cách dùng: Mỗi ngày uống 1 thang.
Bài 10- Thành phần: Vỏ dưa hấu 100 gam, gan lợn 30 gam.- Cách chế: Đem sắc kỹ.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh xơ gan.- Cách dùng: Vừa uống nước sắc vừa ăn gan lợn mỗi ngày 1-2 lần.
Bài 11- Thành phần: Mận tươi 100-150 gam, chè xanh một ít, mật ong vừa đủ dùng.- Cách chế: Mận gọt bỏ hạt, đổ 0,3 lít nước đun sôi 3 phút, cho chè xanh, mật ong vào là được.- Công hiệu: Chữa xơ gan.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 1 thang.
Bài 12- Thành phần: Quýt to 1 quả, chè xanh 10 gam.- Cách chế: Khoét 1 lỗ trong quả quýt, cho chè vào, phơi nắng đến khi khô để dùng dần.- Công hiệu: Chữa bệnh viêm gan vàng da nói chung.- Cách dùng: Người lớn mỗi ngày 1 quả; trẻ em mỗi lần 1/2 đến 1/3 quả, sắc lấy nước uống.

Read More......

Cao huyết áp

Bài 1- Thành phần: Táo tây 1 quả, sứa biển 60 gam.- Cách chế: Táo gọt bỏ vỏ, thái miếng, sứa rửa sạch, thái miếng.- Công hiệu: Điều trị cao huyết áp.- Cách dùng: Ăn hết trong 1 lần, ngày ăn 2-3 lần.
Bài 2- Thành phần: Nhân hạt táo chua 30 gam, hạnh nhân 15 gam, nhân hạt bách 15 gam.- Cách chế: Đem 3 thứ trên sắc kỹ.- Công hiệu: Điều trị cao huyết áp.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.
Bài 3- Thành phần: Hoa hướng dương 1 bông, hồng táo 20 quả.- Cách chế: Cho hoa và táo vào luộc chín.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh cao huyết áp.- Cách dùng: Vừa ăn táo vừa uống nước luộc mỗi ngày 2-3 lần.
Bài 4- Thành phần: Vỏ quả cọ 9-18 gam.- Cách chế: Đun sắc.- Công hiệu: Chữa cao huyết áp.- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.
Bài 5- Thành phần: Táo tàu 6 quả, hoa bách hợp (actysô) 30 gam, sa sâm 15 gam, gạo tẻ 250 gam.- Cách chế: Cho táo, hoa bách hợp, sa sâm và gạo vào nấu cháo.- Công hiệu: Chữa cao huyết áp.- Cách dùng: Ăn cháo mỗi ngày 1-2 lần.
Bài 6- Thành phần: Sơn tra 200 gam.- Cách chế: Sao vàng, tán thành bột.- Công hiệu: Có tác dụng điều trị bệnh mạch vành.- Cách dùng: Mỗi lần uống 2-3 gam, ngày 2-3 lần.

Read More......

Chữa ho

Bài 1 - Thành phần: Quýt tươi 1-2 quả, khế chua tươi 1 quả.- Cách chế: Rửa sạch, bỏ vỏ, thái mỏng.- Công hiệu: Trị ho.- Cách dùng: Nhai nát nuốt lấy nước, mỗi ngày vài lần.
Bài 2- Thành phần: Vỏ quýt tươi 30 gam (vỏ khô 13 gam), nước 600 ml.- Cách chế: Sắc kỹ đến khi còn 400 ml nước thuốc.- Công hiệu: Chữa ho do cảm mạo.- Cách dùng: Hòa đường vừa phải, uống 200 ml lúc đang nóng, sau nửa giờ đun nóng uống tiếp 200 ml còn lại, ngày 2-3 lần.
Bài 3- Thành phần: Rễ chuối tiêu tươi 120 gam, muối ăn một ít vừa đủ.- Cách chế: Giã nát, vắt lấy nước đun sôi- Công hiệu: Chữa ho do phế nhiệt.- Cách dùng: Hòa nước uống, ngày 2-3 lần.
Bài 4- Thành phần: Lê 1 quả, ma hoàng 1,5 gam.- Cách chế: Lê bỏ lõi, cho ma hoàng vào, ninh nhừ.- Công hiệu: Giảm ho.- Cách dùng: Bỏ ma hoàng ra, ăn lê và uống nước sắc, ngày 2-3 lần.
Bài 5- Thành phần: Hồng 6 quả, lá chè 3 gam, đường phèn 15 gam.- Cách chế: Cho cả 3 thứ trên vào ấm đất, ninh nhừ.- Công hiệu: Có tác dụng nhất định chữa ho nhiều đờm.- Cách dùng: Trộn đều ăn, ngày 2-3 lần.
Bài 6- Thành phần: Xoài 50 gam, đường trắng 25 gam, chè xanh 0,5 - 1 gam.- Cách chế: Xoài bỏ hạt, lấy vỏ và cùi thịt, đổ 400 ml nước, đun sôi 3 phút, cho đường trắng và chè xanh vào là được.- Công hiệu: Chữa ho nhiều đờm.- Cách dùng: Ăn tùy ý.
Bài 7- Thành phần: Nhân đào hạt 100 gam, đường trắng 50 gam, rượu 150 ml.- Cách chế: Giã nhỏ nhân đào hạt, cho đường, rượu vào nồi đất, đun to lửa cho sôi rồi chuyển nhỏ lửa đun 10 phút là được.- Công hiệu: Điều trị chứng ho do hư hàn ở người cao tuổi sức yếu, tân dịch nhiều.- Cách dùng: Ngày 1-2 lần, uống liền 3-10 ngày.
Bài 8- Thành phần: Cau 10 quả, đường phèn, nước vừa đủ dùng.- Cách chế: Cho tất cả vào nấu trong vài phút.- Công hiệu: Chữa ho nhiều đờm.- Cách dùng: Uống thay nước chè.

Read More......

Búp lá mùa xuân vị thuốc dân dã

Búp tre, còn gọi là đọt tre, tên thuốc trong y học cổ truyền là trúc diệp quyển tâm, có vị ngọt nhạt, tính lạnh mát. Chữa đái buốt, đái dắt: Búp tre phối hợp với rau má mỗi thứ 20g, để tươi, rửa sạch, giã nát với vài hạt muối, thêm nước gạn uống. Chữa kiết lỵ kinh niên: Búp tre 4g; hạt cau già 2g; chè tươi 10g sao vàng, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày. Chữa sốt cao, háo khát: Búp tre 20g; thạch cao nung 12g, tán nhỏ, trộn đều, sắc uống trong ngày.
Búp ổi, chứa nhiều tanin, có tác dụng làm săn, chữa đau bụng, đi ngoài. Mỗi lần dùng 5-7 búp rửa sạch, nhai với vài hạt muối, nuốt nước. Búp ổi 20g, phối hợp với lá khổ sâm 12g, gừng sống 8g băm nhỏ, sắc uống hoặc búp ổi sao qua 20g; vỏ quýt khô, gừng nướng chín mỗi thứ 10g, sắc uống chữa tiêu chảy.
Búp đa lông (tên thuốc là tân di thụ) phối hợp với hoa cây tỳ bà mỗi thứ 20g, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống hai lần, mỗi lần 8g với rượu nhạt. Hoặc búp đa lông 20g sao vàng; rễ dâu 40g, dùng sống; quả ké đầu ngựa 20g; cây vòi voi 15g sao, sắc uống sau bữa ăn. Chữa đau đầu, viêm xoang mũi, ngứa mũi, chảy nước trong. Để chữa ho ra máu, lấy búp đa lông 20g, sao cháy, mạch môn 20g sao, cỏ nhọ nồi 15g, sắc uống trong ngày.
Búp bàng (nõn bàng) 2 cái, để tươi, rửa sạch, nhai nát, ngậm trong 10-15 phút, rồi nhổ cả bã lẫn nước, chữa sưng lợi, tụt lợi (một giai đoạn của bệnh viêm nha chu). Ngày làm 2-3 lần. Búp bàng tươi nấu lấy nước đặc rửa, rồi lấy búp phơi khô, tán bột mịn, rắc hằng ngày chữa sâu quảng. Búp bàng phối hợp với lá sòi tía, sắc nước đặc, rửa vết thương chống nhiễm khuẩn.
Búp chè 300g để tươi, vò nát, nấu nước uống làm nhiều lần trong ngày chữa phù thũng. Để chữa tiêu chảy, kiết lỵ, lấy búp chè (loại để lâu ngày) dùng riêng nhai mỗi lần một dúm, nuốt nước dần dần, ngày nhiều lần; hoặc phối hợp với búp ổi mỗi thứ 20g, sao vàng; cam thảo 5g, sắc đặc, uống làm hai lần trong ngày.
Búp dứa dại 20g giã nhỏ với lá ngải cứu 20g, rau bộ nước 30g, lá phèn đen 10g, thêm nước, gạn uống, chữa sỏi thận; hoặc sắc uống với mầm rễ cỏ gừng liều lượng bằng nhau, chữa đái dắt, đái buốt có máu. Dùng ngoài, búp dứa dại và lá đinh hương giã đắp, chữa đinh râu.
Búp sim 8-16g thái nhỏ, sắc uống, chữa đau bụng, tiêu chảy. Có thể tán thành bột mà uống. Để chữa lỵ trực khuẩn, lấy búp sim, phối hợp với búp ổi mỗi thứ 16g; rễ hoàng liên, lá phèn đen, liên kiều, cát căn mỗi thứ 10g sắc uống trong ngày. Dùng 3-5 ngày. Dùng ngoài, búp sim nấu nước rồi cô đặc được dùng rửa làm thuốc sát khuẩn vết thương.
Búp dâu 16g; mè đất 30g sao vàng, hạ thổ; búp cây chanh 12g; hoa cây guốc nước mặn 20g sao vàng. Tất cả thái nhỏ, sắc nước, rồi hòa với đường. Trẻ em 1-3 tuổi, uống mỗi lần 1 thìa cà phê; 4-6 tuổi, mỗi lần 1,5 thìa; 7-9 tuổi, mỗi lần 2 thìa; 10-12 tuổi, mỗi lần 2,5 thìa; 13-15 tuổi, mỗi lần 3 thìa. Ngày uống 2 lần, kiêng ăn chất tanh, chữa ho gà.
Búp ruối, búp tre mỗi thứ 40g; lá hàn the 12g; hoạt thạch 6g. Tất cả cắt nhỏ, sắc uống. Hoặc búp ruối với lá chỉ thiên và lá trầu không non (lượng bằng nhau), sắc uống trong ngày. Chữa sốt rét.
Búp sau sau 50g, ngọn non sa nhân 50g, lá trầu không 30g. Tất cả để tươi, giã nát nhuyễn, trộn với vôi tôi 30g. Bôi nhiều lần trong ngày. Chữa hôi nách.
Búp dứa (đọt thơm) 20-30g, cắt nhỏ, phơi khô, sắc uống, chữa sốt nóng. Búp dứa 30g phối hợp với rau ngót hay rau má 20g; rệp 3-5 con, giã nát, thêm nước, gạn uống, bã đắp, chữa rắn cắn.
Búp thài lài tía, rễ dừa non, hạt mã đề, lá cối xay, lá dâu tằm, lá muồng trâu (sao) mỗi thứ 8g; rau muống 12g; vỏ quýt, gừng sống mỗi thứ 4g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô sắc uống chữa phong nhiệt, bí tiểu tiện.
Búp mã đề, mầm củ ấu mỗi thứ 10g, rửa sạch, thái nhỏ, nấu với thịt lợn, ăn vài ngày, chữa táo nhiệt, bí đại tiện ở phụ nữ có mang.

Read More......

Đái dắt

Bài 1Thành phần: Kim anh tử 1,5kg, đường trắng vừa đủ dùng.Cách chế: Kim anh tử rửa sạch, nấu thành cao, tra đường trắng, trộn đều.Công hiệu: Chữa chứng đái dắt ở trẻ em.Cách dùng: Mỗi lần uống 1 thìa canh, ngày 2 lần.Bài 2Thành phần: Cùi thịt quả ngân hạnh 10 quả, đại hồng táo 10 quả, đường trắng vừa đủ dùng.Cách chế: Sắc kỹ đến khi nước đặc, hòa đường vừa đủ ngọt.Công hiệu: Chữa chứng đái dắt ở trẻ em.Cách dùng: Uống trước khi đi ngủ.Bài 3Thành phần: Nhân hạnh đào 15 gam, vừng đen 6 gam, táo tàu 5 quả.Cách chế: Táo bỏ hạt, giã nát cùng 2 thứ trên.Công hiệu: Điều trị chứng đái dắt ở trẻ nhỏ.Cách dùng: Ăn hết trong 1 lần. Mỗi ngày 1-2 lần.

Read More......

28.4.08

Sỏi thận rất dễ tái phát


Bệnh sỏi thận có nhiều cách chữa như uống thuốc để làm tan sỏi, tán qua da, phẫu thuật. Tuy nhiên, có đến 50% số bệnh nhân xuất hiện sỏi trở lại sau đó.
Sỏi thận hình thành do lượng nước tiểu quá ít (mất nước do uống ít nước hoặc lao động quá sức), hay nồng độ các chất khoáng tăng cao như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt pho tăng cao. Những chất này lắng đọng trong đài, bể thận và kết thành sỏi. Những viên nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu mà không gây triệu chứng gì. Những viên lớn hơn có thể vẫn di chuyển được theo dòng nước tiểu nhưng gây đau đớn và chảy máu đường tiết niệu, hay mắc lại ở những chỗ hẹp của niệu quản, gây viêm tắc niệu quản.
Có những viên sỏi nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần, choán hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm huỷ hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Sỏi thận có bề mặt xù xì, lởm chởm, sắc nhọn nên rất dễ làm tổn thương thận tạo nên những vết sẹo, dẫn đến suy thận.
Có 4 loại sỏi thận chính
Sỏi canxi: Chiếm 80-90%. Lượng canxi thừa trong cơ thể được đào thải qua thận, nếu nồng độ quá nhiều, khó hòa tan hết trong nước tiểu, nó sẽ kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi. Những người có lượng vitamin D cao, bị cường tuyến giáp, hay những người bị suy thận dễ bị sỏi canxi.
Sỏi phosphat ammonium magnesium: Do vi khuẩn lên men urê gây nên, thường hình thành sau khi bị viêm đường tiết niệu mạn tính do tăng lượng amoniac trong nước tiểu. Amoniac nồng độ cao làm vi khuẩn phát triển nhanh hơn, khiến sỏi khuẩn hình thành. Sỏi này thường có nhiều cạnh nhọn, kích thước lớn làm tổn thương thận.
Sỏi acid uric: Hình thành do quá nhiều axit uric trong nước tiểu. Người ăn nhiều đạm động vật, người bị bệnh gút có nguy cơ sỏi urat cao.
Sỏi cystine: Ít gặp, hay xảy ra ở người bị bệnh xistine niệu, khiến thận không hấp thu lại xistine (một loại amino acid). Chất này không được hòa tan tốt trong nước tiểu, khi nồng độ cao sẽ tạo thành sỏi.
Khi thấy đau là sỏi đã lớn
Quá trình hình thành sỏi không có triệu chứng nên bệnh nhân thường không biết mình bị sỏi thận. Chỉ đến khi sỏi lớn lên gây đau đớn, hay đi tiểu ra sỏi mới biết. Các triệu chứng thường gặp là:
- Cơn đau thận do sỏi gây tắc bể thận và niệu quản. Đau vùng thắt lưng, lan xuống hố chậu, bìu, kèm nôn hay trướng bụng. Có khi bệnh nhân chỉ đau âm ỉ vùng thắt lưng do sỏi không gây tắc.
- Tiểu ra máu do sỏi gây tổn thương đường tiết niệu hay do nhiễm khuẩn, làm thận chảy máu.
- Có thể có sốt cao 38-39 độ C, hoặc ớn lạnh, thận to đau, cảm giác bỏng rát.
- Đau khi tiểu, nước tiểu đục do nhiễm khuẩn.
Nhiều cách chữa nhưng hay tái phát
Để điều trị hiệu quả, việc xác định loại sỏi rất quan trọng. Có thể loại trừ sỏi thận nhỏ mà không phải phẫu thuật như uống nhiều trên 2 lít nước một ngày để sỏi tự ra. Ở cơ sở y tế, các bác sĩ có thể áp dụng các biện pháp như:
Tán sỏi ngoài cơ thể: Với sỏi đài bể thận đường kính dưới 20 mm, có thể dùng năng lượng siêu âm chiếu qua da vào các viên sỏi để phá vỡ chúng. Sóng siêu âm tán viên sỏi ra thành nhiều mảnh nhỏ đường kính dưới 4 mm để nó tự ra ngoài qua đường tiểu.
Tán sỏi qua da: Đưa một máy tán sỏi qua da vùng thắt lưng vào thận. Viên sỏi sẽ bị tán vỡ nhờ sóng siêu âm và hút ra ngoài qua ống. Cách này có thể tán được những sỏi lớn, rắn ngay trong bể thận đã giãn rộng, có thể rửa sạch, lấy hết cặn sỏi và dẫn lưu bể thận qua da.
Phẫu thuật: Áp dụng khi sỏi lớn đường kính trên 40 mm, sỏi san hô nhiều gai cạnh găm vào đài bể thận, đài bể thận giãn hay ứ nước...
Hơn 50% số người từng bị sỏi thận sẽ bị tái phát. Do đó dù đã điều trị, bệnh nhân vẫn cần:
- Uống 2-3 lít nước mỗi ngày.
- Giảm lượng thức ăn giàu oxalat, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô cô la, nước chè, rau chân vịt, dâu tây. Ăn ít chất đạm động vật nếu bị sỏi acid uric.
- Uống một số loại thuốc giúp kiểm soát lượng khoáng chất phát triển trong nước tiểu.
- Người bị sỏi thận do tuyến giáp tiết ra nhiều hoóc môn cần điều trị triệt để bằng phẫu thuật tuyến giáp.

Read More......